Câu chuyện nhân quả số 4: CÔ VỢ BỘI BẠC VÀ NỖI...

Câu chuyện nhân quả số 4: CÔ VỢ BỘI BẠC VÀ NỖI LÒNG NGƯỜI CHA

SHARE
Câu chuyện nhân quả
Câu chuyện nhân quả

Câu chuyện nhân quả số 4: CÔ VỢ BỘI BẠC VÀ NỖI LÒNG NGƯỜI CHA

Ở thế gian, mỗi con người đến khi trưởng thành đều mong muốn xây dựng cho mình một mái ấm nhỏ và hạnh phúc, vợ chồng chung thủy, con cái ngoan hiền. Nhưng mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, không phải gia đình nào cũng được như thế. Sau đây chúng tôi mang đến cho quý độc giả một câu truyện tiêu biểu về gia đình để chúng ta cùng suy ngẫm và rút ra bài học cho bản thân mỗi người. Đây là câu truyện có thật tại pháp hội thỉnh oan gia trái chủ ở chùa Ba Vàng. Mời các quý Phật tử cùng theo dõi.

Ngày xưa có một đôi vợ chồng trẻ rất nghèo, mới lấy nhau chưa được bao lâu. Cuộc sống gia đình hạnh phúc, hai vợ chồng sống rất thương nhau. Khi biết người vợ mang thai đứa con đầu lòng thì người chồng hết sức vui mừng. Nhưng cũng là lúc anh trăn trở lo lắng về tương lai của con. Hai vợ chồng nghèo cả về tiền bạc lẫn trí tuệ thì làm sao nuôi dạy con nên người. Trước tình cảnh đó người chồng nghĩ ra một cách và bảo với vợ:

– “Vợ chồng mình bây giờ rất là nghèo! nếu đẻ con ra bây giờ không thể nào nuôi dạy cho tốt được. Hay thôi em cố gắng chịu khổ, anh sẽ nhờ người bán em cho thằng nhà giàu kia. Nó chưa biết là em có thai, em vào đấy em đẻ con ra để cho con mình được nuôi trong nhà giàu ấy. Nó sẽ được dạy bảo nên người và học hành đến nơi đến chốn em ạ. Một thời gian khi con mình trưởng thành rồi hãy quay về với anh. Bây giờ phải hy sinh đời mình để củng cố đời con cho nó đỡ khổ”

Người vợ nghe chồng nói vậy cũng không muốn xa chồng. Nhưng nghĩ đến tương lai của con với hoàn cảnh hiện tại của gia đình mình thì không còn cách nào khác ngoài cách đó. Một sự hy sinh rất lớn của những người làm cha mẹ cho đứa con sắp chào đời. Chồng chấp nhận xa vợ xa con. Vợ chấp nhận xa người chồng yêu thương để đến với một người xa lạ. Việc làm này quả là một việc hiếm có từ xưa tới nay.

Nhưng đúng là nhân quả cuộc đời, trong kinh Bát Đại Nhân Giác, Đức Thế Tôn có dạy “nghèo khổ thường kết nhiều duyên ác”. Quả đúng như vậy! Người vợ sau khi về với người chồng mới là một ông chủ giàu có, được vài tháng cô liền quên hết tình nghĩa vợ chồng xưa. Nàng quên luôn những gì mà hai người đã từng thề non hẹn biển với nhau. Sống trong cảnh ngũ dục đầy đủ, cô nàng không muốn quay lại mái nhà cũ nát ngày xưa nữa và cũng chẳng thèm ngó ngàng gì đến người chồng. Đến khi cái thai được bảy tháng, người chồng sốt ruột không biết tình hình vợ con thế nào. Anh liền nghĩ cách đến xin làm kẻ hầu trong nhà ông chủ kia. Với ý nghĩ rằng khi vợ đẻ con ra mình sẽ được chăm sóc con của mình. Chàng đâu có ngờ khi gặp lại nhau sau bảy tháng xa cách thì người vợ coi chồng như người dưng nước lã. Không những thế mà cô vợ còn coi anh chồng mình là người hầu thực sự. Cô ta nghĩ bây giờ mình ở địa vị cao sang, lại còn được gọi là bà lớn nữa, dại gì mà quay lại với cái thứ nghèo rớt mùng tơi này.

Thời gian anh chồng cũ làm người hầu trong nhà, cô ta ra sức sai bảo, quát mắng. Anh chồng ngỡ ngàng và tức tối lắm, không hiểu sao vợ mình lại thay đổi nhanh đến thế. Nhưng anh chồng vẫn chăm chỉ làm đầy đủ mọi việc, vì sợ nếu sự việc bại lộ ra thì hỏng hết kế hoạch. Con của anh phải được ra đời và nuôi dạy đầy đủ đến lúc khôn lớn như tính toán của anh. Ngày ngày anh chồng vẫn nhẫn nhịn mọi việc vì đứa con sắp chào đời của mình. Và ngày vợ anh nở nhụy khai hoa cũng đến. Thằng bé bụ bẫm và kháu khỉnh chào đời. Từ khi đứa bé sinh ra đến lúc được hai tuổi là những ngày tháng anh sống nhục nhã trong căn nhà này. Nhưng vì con mà anh vẫn nhẫn nhịn được từng ấy tháng ngày.

Thật đúng như lời các cụ nói “con giun xéo lắm cũng quằn”, giọt nước tràn ly. Sự nhẫn nhịn đã đến đỉnh điểm. Anh nghĩ bây giờ thì không còn tình nghĩa vợ chồng gì nữa rồi, nhất định anh sẽ cho mụ vợ bội bạc này một trận. Cuối cùng cơ hội cũng đã đến. Nhân lúc không có ai ở nhà, anh liền gọi người vợ ra một chỗ nói chuyện, anh chỉ tay vào mặt cô vợ và nói:

– “Mày quên rồi à? mày đến đây để nuôi con cơ mà? sao bây giờ mày lại đổ đốn như thế này?”

Nghe chồng cũ nói vậy thì người vợ nổi cơn tam bành, chỉ thẳng mặt chồng cũ nói:

– ” Xéo!!! ai bảo đây là con của mày đấy? Mày mà nhận con mày thì bà cho mày biết”

Cô vợ nói xong lấy tay tát liền mấy nhát vào mặt đứa con trai. Anh chồng thấy vợ đánh con mình như thế thì đau xót như đứt từng khúc ruột, anh quỳ lạy xuống rối rít:

– “Thôi thôi đừng đánh thằng bé nữa, nó còn nhỏ có tội tình gì đâu?”

Người vợ trợn mắt dậm chân nói:

– “Mày xéo ngay! mày mà nhận đây là con của mày là tao giết thằng bé này ngay”

Và cứ như thế mụ vợ đánh tới tấp thằng bé. Anh chồng không còn cách nào khác liền van xin và can ngăn:

– “Thôi! thôi! tôi không dám nhận ạ bẩm bà…Con không dám nhận…bẩm bà. Con không dám nhận nữa ạ…!!!”

Đâm lao phải theo lao, nếu bây giờ chuyện này lộ ra là bung bét hết cả. Anh chồng đành phải cắn răng chịu đựng nhục nhã sống trong cảnh người hầu để được chăm con. Thế rồi một hôm thằng bé bị ốm sốt rất cao. Anh chồng – người hầu bế con trên tay mà nước mắt lưng tròng. Anh xoa cho con, vỗ về con mong cho nó được sớm khỏi bệnh và bình an. Mỗi lúc gần con như thế, anh lại rủ rỉ kể vào tai đứa bé, kể cho nó nghe hết sự thật đau khổ của mình. Tuy nhiên một đứa bé như nó chưa thể nhận thức hết được những điều anh nói.

Thi thoảng mụ vợ thấy chồng cũ thủ thỉ với thằng bé thì cô ta quát lên:

– “Thằng kia!!! mày làm gì nó đấy???”

Anh chồng đáp lại:

– “Dạ bẩm bà, con chỉ dỗ nó thôi ạ…”

Một hôm cô vợ lén nghe được chồng cũ đang tỉ tê kể lại mọi chuyện cho con trai. Mụ ta lao vào giật lấy đứa bé và quát:

– “Trả con cho tao!!!”

Khi giật được thằng bé về mình mụ liền bế nó chạy đi và dìm thằng bé xuống nước. Đang cơn sốt cao, một lúc sau thằng bé lên cơn co giật rồi chết một cách bất ngờ. Sau khi gây ra án mạng, mụ vợ thản nhiên như người vô tội. Mụ lu loa khóc lóc kể lể với ông chủ – người chồng mới rằng:

– “Ối anh ơi! Thằng hầu này em giao con của mình cho nó chăm sóc, ai ngờ nó giết chết con của mình rồi anh ơi! anh giết chết nó đi cho em!!!”

Anh chồng cũ lúc này như người mất hồn, con chết, vợ phụ bạc, bị vu oan giết người…Bao nhiêu nỗi đau khổ tột cùng phải gánh chịu trong cùng một lúc. Đứa con là tất cả cuộc sống của anh, nhưng bây giờ nó đã bỏ anh đi rồi, làm sao anh chấp nhận được sự thật nghiệt ngã này. Nó phải mất mạng vì chính mẹ ruột của nó, cũng chính là người vợ mà anh rất thương yêu năm nào.

Ông chủ uất ức tím mặt, chỉ tay vào mặt anh:

– “Nếu mày còn bén mảng đến cái vùng này là tao giết mày luôn. Mày hại nhà tao như thế à???”

Thế là anh chồng đau khổ phải đi biệt xứ. Anh sống trong sự đau khổ tột cùng. Trong tâm anh luôn dấy lên sự uất hận. Anh thề rằng đời đời kiếp kiếp sẽ trả bằng được mối thù này.

Thời gian trôi qua càng làm tâm hận thù của anh thêm sâu đậm. Vô thường đến, lưỡi hái của tử thần đã cướp đi tất cả. Cả ba người trên đều từ giã cõi đời tiếp tục đi vào vòng luân hồi sinh tử. Họ tái sinh nhiều kiếp đều gặp lại nhau để trả nợ lẫn nhau. Thật đáng sợ!!!

Mụ vợ độc ác sau kiếp đó đã phải đọa xuống ba đường ác để chịu quả báo rất khổ. Hai trăm mười ba kiếp sau, cơ duyên cho họ hóa giải oán kết với nhau đã đến. Chùa Ba Vàng tổ chức pháp hội thỉnh oan gia trái chủ vào các ngày 8, 14, 30 âm lịch hàng tháng. Đây là một phương tiện của chư Phật cho chúng sinh biết rõ nhân quả tiền kiếp. Để từ đó chuyển nghiệp bằng cách tu sửa tâm mình, thực hành chân thật theo giáo Pháp của chư Phật, để hóa giải oán kết. Kiếp này mụ vợ ác độc xưa được tái sinh làm người chính là cô Phật tử Nguyễn Thị A (tên nhân vật đã được thay đổi). Cô mang trên mình một căn bệnh quái lạ, tâm tư thường sầu thảm, thường hay khóc một mình, thân thể đau yếu khám không ra bệnh. Nhờ có người mách bảo, cô tìm đến chùa Ba Vàng mong được cứu giúp. Và cô đã xin làm công quả tại đó. Còn anh chồng cũ vẫn trong cảnh giới ngã quỷ (dân gian thường gọi là vong hồn). Qua pháp hội thỉnh oan gia trái chủ tại chùa Ba Vàng. Câu chuyện tiền kiếp của cô đã được sáng tỏ. Khi vong hồn anh chồng cũ được thỉnh vào trong pháp hội cho chư Tăng khai thị để hóa giải oán kết thì vong hồn đã kể hết câu chuyện kiếp xưa. Hiện tại vong hồn này ngày đêm theo báo oán, tác động cho cô Nguyễn Thị A phải chịu đau khổ. Anh chồng xưa kia phải đau khổ về sự chia lìa bao nhiêu thì giờ đây cô Nguyễn Thị A cũng phải đau khổ gấp ngàn lần chứng kiến các cảnh chia lìa. Vong hồn thưa với chư Tăng trong pháp hội rằng:

– “Con phải khóc về sự chia lìa bao nhiêu thì cuộc đời nó phải khóc một ngàn lần chứng kiến các cảnh chia lìa bấy nhiêu. Con luôn luôn cho nó khóc bởi các cuộc chia lìa. Mỗi lần con khóc vì con trai con thì khiến nó phải khóc với tất cả những người xung quanh. Tất cả những người xung quanh trong cuộc đời nó, nếu nó gặp ai nó đều tự nhiên phải rơi nước mắt. Con sống trong nỗi nơm nớp, lo âu thế nào thì cả cuộc đời này nó sẽ phải sống trong nỗi nơm nớp, lo âu như thế ấy. Nó đã phụ tình, thất hứa thế nào thì cả cuộc đời này nó phải bị phụ tình thất hứa thế ấy. Con sẽ cho nó SỐNG DỞ, CHẾT DỞ, cho nó phải THA PHƯƠNG CẦU THỰC”.

Vong hồn vừa nói vừa khóc trong sự uất hận dồn nén từ rất nhiều kiếp. Nay tất cả mọi chuyện đã được rõ ràng. Người nghe xót xa, kẻ thấy rơi lệ. Chư Tăng khai thị cho cả cô Nguyễn Thị A và vong hồn rằng:

“Hôm nay chư Tăng biết tín chủ Nguyễn Thị A đây vì nhiều nỗi khổ trong đời mà tìm về chùa tu tập, có tâm nương tựa vào chư Tăng và giáo pháp của Đức Phật. Hai ngươi nên biết rằng các ngươi đều có sẵn ác nghiệp từ trước nên kiếp đó mới phải gặp nhau để trả nghiệp. Đức Phật dạy rằng: “lấy oán trả oán thì oán oán chất chồng, lấy ân trả oán thì oán oán tiêu tan”. Nếu cứ theo nhau oán thù thì hết kiếp này đến kiếp khác cả hai vẫn đều đau khổ…”

Sau khi được chư Tăng khai thị xong, cả hai đều hoan hỷ xin tu tập ở chùa. Cô Nguyễn Thị A phải phát nguyện cúng dường để hồi hướng cho vong hồn có đủ phước báu về chùa tu tập. Và bản thân cô cũng phải phát tâm Bồ Đề. Từ nay không được thất hứa bất cứ việc gì trong Phật Pháp. Thời gian rảnh rỗi phải lên chùa công quả không được biếng trễ. Khi đến chùa phải làm dưới sự sai bảo của người khác và phải hoàn thành xuất sắc việc được giao thì mới có thể tiêu cái nghiệp tiền kiếp (vợ chồng thỏa thuận với nhau đến nhà kia vì tương lai của con mà lại làm ngược lại). Cô  A phải làm hết các việc như thế từ giờ đến lúc đủ 22 tuổi. Nếu không thực hiện được như vậy để trả nghiệp, thì cuộc sống của cô A lúc nào cũng giống như địa ngục trần gian.

Lúc bấy giờ vong hồn người chồng cũ được chư Tăng cho phát tâm Bồ Đề, về chùa tu tập, không theo cô A nữa. Sau một thời gian kể từ khi được giải oán kết và tu tập sửa đổi tâm mình cô A đã khỏe mạnh và vui tươi trở lại. Cô thấy cuộc sống đáng yêu và có nhiều ý nghĩa hơn.

LỜI BÌNH:

Đây là một trong số muôn vàn câu chuyện mà chúng tôi nêu ra trong pháp hội thỉnh oan gia trái chủ của chùa Ba Vàng. Qua đây chúng ta thấy rằng mọi suy nghĩ tính toán của chúng ta đều không ra ngoài nhân quả. Vẫn biết động cơ là thương con, nhưng nếu không có trí tuệ thì sẽ chịu quả báo xấu ngay. Quả báo xấu ác sẽ đến với ta nếu ta không biết quay đầu lại, không biết tu sửa tâm mình cho thiện lành. Đây cũng là bài học cho những cặp vợ chồng thời nay. Cuộc sống tuy có gian khó nhưng cũng đừng vì thế mà phụ bạc nhau, vật chất thế gian tuy cũng cần với đời sống hàng ngày nhưng nó đâu phải là thứ duy nhất đem đến hạnh phúc cho chúng ta. Người làm vợ phải lấy bốn chữ “CÔNG DUNG NGÔN HẠNH” để vận dụng vào cuộc sống. Muốn được hạnh phúc thực sự thì chỉ có thực hành theo giáo pháp của Đức Phật, đấng phúc trí vẹn toàn, vị thầy đáng kính của trời, người.