Lại Tra Hòa La

Lại Tra Hòa La

SHARE
Bốn điểm thuyết giáo của Ðức Ðạo Sư thật vi diệu
Bốn điểm thuyết giáo của Ðức Ðạo Sư thật vi diệu

Khi Ðức Phật du hóa tại xứ Kuru đến thị trấn Thu La, dân chúng đồn đãi kéo đến bái yết Ngài để nghe thuyết pháp. Bấy giờ trong đại chúng có thanh niên tên Lại Tra Hòa La, con trai của một gia đình thượng tộc giàu có nhất vùng, sau khi nghe pháp, suy nghĩ:

–  “Như ta hiểu lời Thế Tôn dạy, thì ở nhà thật khó thực hành đời sống phạm hạnh một cách viên mãn, hoàn toàn trong sạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.

Nghĩ vậy xong, sau thời thuyết pháp của Phật. Sau khi hội chúng đã lễ Phật mà lui về, thanh niên ấy đến bên Ðức Thế Tôn, xin Ngài xuất gia tu học.

–  Bạch Thế Tôn, như con được hiểu lời Thế Tôn dạy, thì tại gia thật không dễ gì sống đời phạm hạnh một cách viên mãn, hoàn toàn trắng bạch như vỏ ốc. Con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy cho con xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn.

–  Nhưng này thanh niên, con có được cha mẹ bằng lòng cho xuất gia chưa?

–  Bạch Thế Tôn. con chưa được cha mẹ bằng lòng.

–  Này thanh niên, Như Lai không cho xuất gia nếu cha mẹ không bằng lòng.

–  Bạch Thế Tôn, vậy con phải làm những gì cần thiết để cha mẹ bằng lòng cho con xuất gia.

Lại Tra Hòa La đảnh lễ Phật ra về, xin cha mẹ:

–  Thưa ba má, con muốn cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình. Xin ba má hãy bằng lòng cho con được xuất gia.

Khi nghe nói vậy ông bà phú hộ bảo:

–  Này con, đừng ăn nói dại dột. Con là đứa con duy nhất của ba má được nâng niu như vàng ngọc từ tấm bé, lẽ nào ba má để cho con được xuất gia? Huống chi nhà ta vàng nén, hột xoàn kim cương chất đống, bao nhiêu của chìm của nổi, tài sản mấy đời tổ tiên để lại, tất cả đều dành cho con. Con hãy ăn chơi thỏa thích, rồi muốn tu thì bố thí, làm phước là được rồi. Con chưa biết gì đến sự gian khổ, làm sao ba má để con sống đời khổ hạnh được? Ba má không bao giờ cho con xuất gia.

Sau ba lần năn nỉ không được chấp nhận, Lại Tra bèn nằm lăn ra giữa nhà, tuyệt thực với ý định: “Ta sẽ chết ở đây, nếu không được xuất gia”.

Hai ông bà đưa cơm cháo gì đến, Lại Tra vẫn nằm bất động. Một ngày, hai ngày, ba ngày, rồi bảy ngày trôi qua, chàng nhất định không ăn uống, không cục cựa, mặc cho cha mẹ khuyên lơn. Thân thể chàng đã yếu lả, mắt lờ đờ như người hôn mê sắp chết. Ông bà phú hộ đâm hoảng, đến cầu cứu những người bạn trẻ của con:

–  Này các cháu, Lại Tra Hòa La đòi đi tu, hai bác không cho, nên nó tuyệt thực nằm vạ cả tuần lễ nay chẳng chịu nhúc nhích nói năng gì cả. Các cháu hãy đến năn nỉ nó ăn uống lại giùm. Hãy khuyên nó bỏ ý định xuất gia.

Các thanh niên làm theo lời, đến bên Lại Tra để khuyên nhủ. Nhưng sau năm bảy lần thuyết phục, chàng vẫn bất động. Thấy thế nguy, họ đề nghị với ông bà phú hộ:

–  Thưa hai bác, chúng cháu thấy rõ Lại Tra đã nhất quyết theo ý định mình, không thì chết. Vậy hai bác nên bằng lòng cho anh ta xuất gia, họa may thỉnh thoảng hai bác còn gặp lại được. Nếu không hai bác đành vĩnh viễn mất người con.

Hai ôngbà đành phải chấp thuận, đến nói với Lại Tra:

–  Thôi, con đã nhất quyết thì ba má cũng chiều lòng. Nhưng đi tu xong phải thỉnh thoảng về nhà thăm ba má và mấy người vợ mới cưới của con, kẻo chúng nhớ tội nghiệp.

Lại Tra mở bừng mắt ngồi nhỏm dậy, trở lại ăn uống. Sau khi lấy lại sức, chàng từ giã cha mẹ ra đi, đến chỗ Phật trú.

–  Bạch Thế Tôn, con đã được cha mẹ cho phép xuất gia. xin Thế Tôn hãy cho con xuất gia tu phạm hạnh.

Ðức Phật nhận lời cho thanh niên cạo tóc đắp áo cà sa, thọ đại giới, theo Ngài về ở Tịnh xá Kỳ Viên nước Xá Vệ. Tôn giả Lại Tra tinh tiến tu hành, ưa thích đời sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, chẳng bao lâu đã đạt đến cứu cánh cao tột của đời phạm hạnh, vì cứu cánh này mà những thiện gia nam tử đã từ bỏ gia đình, ấy là quả vị A La Hán. Vị ấy biết sanh tử đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm xong, không còn phải trở lại cuộc đời này nữa.

Một hôm,Tôn giả đến đảnh lễ Phật:

–  Bạch Thế Tôn, nếu Ngài cho phép, con sẽ xin trở về ngôi làng cũ.

Ðức Phật quán xét biết Tôn giả bây giờ đã có thể trở về, không có gì nguy hiểm cho phạm hạnh, nên Ngài dạy:

–  Lại Tra, ngươi có thể làm những gì ngươi nghĩ là phải thời.

Sau khi đảnh lễ đấng Ðạo Sư, Tôn giả Lại Tra thu xếp lên đường. Ðến thị trấn Thu La, Tôn giả tuần tự khất thực. Khi đến nhà cha mẹ, Tôn giả ôm bát đứng ngoài cổng. Thoáng thấy bóng chiếc áo cà sa, ông phú hộ chưa kịp nhìn kỹ, đã nổi trận lôi đình, nghĩ: “Kìa là một Sa môn trọc đầu tới xin ăn. Vì những người đó mà đứa con yêu dấu độc nhất của ta đã bỏ nhà ra đi biền biệt. Nay còn tới đây báo hại cái gì?” Rồi không thèm nhìn ra, ông quát tháo:

–  Này Sa môn trọc đầu kia hãy đi đi! Ta không muốn nhìn cái mặt mo ấy. Ði cho mau, đi cho khuất con mắt của ta!

Tôn giả lặng lẽ ôm bát tiếp tục đi. Chợt từ ngõ sau nhà, người nữ tỳ bưng nồi cháo đi đổ. Tôn giả nói:

–  Này chị, chị bưng cái gì thế?

–  Tôi đem nồi cháo ăn còn thừa từ bữa qua đi đổ vào thùng rác ngoài lộ.

–  Xin chị hãy đổ vào bát của bần tăng cũng được, khỏi phải đi xa cho nhọc lòng.

–  Càng tốt.

Khi người nữ tỳ đến gần để trút cháo vào bát Tôn giả, cô ta nhận ra đôi chân quen thuộc. Ðánh bạo nhìn lên tay, mặt, thì rõ ràng là vị tiểu chủ ngày xưa, không còn lầm gì nữa. Nữ tỳ chạy vào nhà:

–  Thưa ông bà chủ, tiểu chủ đã về tới ngoài kia!

Bà phú hộ mừng rỡ:

–  Ðâu, đâu? Nếu thật như mày nói, thì mày sẽ được phần thưởng xứng đáng, con ạ.

Ông phú hộ cũng chạy ra:

–  Con ta đâu nào?

–  Thưa, tiểu chủ đang ngồi ăn cháo thừa đằng kia.

Lúc ấy Tôn giả đang tựa lưng vào một bức tường mà dùng cháo vừa xin được. Bà phú hộ nhìn kỹ là con mình, liền chạy lại khóc:

–  Con ơi là con! Sao con về nhà mà con không vào nhà của con lại ngồi dọc đường dọc sá thế này? Lại đi ăn cháo vữa cháo thiu! Hãy vào nhà, đi con.

–  Thưa gia chủ, bần tăng không có nhà. Bần tăng có đến nhà của gia chủ, nhưng không nhận được bố thí, chỉ nhận được lời sỉ nhục và xua đuổi.

Ông phú hộ cũng đã nhận ra, bèn tới năn nỉ:

–  Này con, con hãy vào nhà. Ba má sẽ dọn đồ ăn ngon lành cho con. Ðừng ăn cháo thiu mà đau bụng.

–  Thưa gia chủ, hôm nay việc ăn uống đã xong.

–  Vậy thì trưa mai, con hãy nhận lời ba má.

Tôn giả im lặng chấp thuận. Ông bà phú hộ trở vào nhà, bàn mưu tính kế. Ông nói:

–  Con ta đã về tới đây, phải làm sao để giữ chân nó lại, đừng cho nó ra đi. Ngày mai, bà với tôi phải hiệp sức mà thuyết phục nó. Trước hết, bà hãy dọn cho nó một bữa ăn ngon lành, có gà nướng, có rượu hảo hạng, đừng thiếu món gì. Rồi còn nữa? À, hãy đem tất cả vàng bạc, kim cương ngọc ngà châu báu trong kho ra, chất một đống giữa nhà cho thật cao, ngập mặt ngập mày, mà chỉ cho nó nhìn, cho nó biết tài sản của mình là nhiều như vậy. Kế đó là phần việc của mấy đứa con dâu. Chúng nó đâu rồi, bà hãy gọi chúng nó ra đây, để chúng ta cắt công cắt việc.

Khi các con dâu đến, ông phú hộ bảo:

–  Này các con dâu! Ngày mai chồng của các con trở về ăn cơm tại nhà đấy. Các con phải tận lực hợp sức cùng ba má để kéo nó ở lại, đừng cho nó đi. Các con phải trang điểm cho thật lộng lẫy huy hoàng. Hãy đeo vào đầu, vào cổ, vào tay, vào chân những đồ trang sức mà ngày xưa chồng các con nó ưa nhìn thấy các con đeo. Hãy sức nước hoa, tưới dầu thơm cho thật nhiều vào, trét phấn, thoa son, bôi mi mắt, kẻ lông mày, uốn tóc cho dợn sóng lên, chống lỗ mũi, lỗ tai lên.

Những cô dâu khúc khích che miệng cười:

–  Thưa ba, không có chống lỗ tai đâu ạ!

–  Vậy thì, các con hãy làm cái gì các con nghĩ là hợp thời để quyến rũ chồng của các con cho bằng được.

Rồi ông bà phú hộ cắt đặt cho gia nhân trưng dọn, trang hoàng nhà cửa, ngọc ngà châu báu được đem ra chất giữa nhà một đống, lấy màn che lại. Các cô vợ trẻ trang sức lộng lẫy như đào hát đứng thành một tốp, cũng lấy màn che lại. Phú ông ngắm nghía nhà cửa, vàng ngọc, và người, tỏ vẻ đắc chí, hài lòng:

–  Thế là được. Ngày mai cứ như vậy mà thi hành.

Hôm sau, đến giờ thọ trai, Tôn giả ôm bát từ từ tiến vào cổng. Ông bà đon đả ra mời. Khi Tôn giả vào nhà, ông chỉ:

–  Này con, hãy nhìn đây, (ông kéo màn) vàng bạc châu báu cả đống đấy, tất cả đều là của con. Con hãy ở lại mà thọ hưởng, muốn chi cũng được.

–  Thưa gia chủ, nếu gia chủ dành cái đống đó cho tôi, thì xin gia chủ cho xin thêm ít cái bao bố may sẵn, dộng nó vào, và mướn một, hay hai, ba chiếc xe chở ra ngoài sông lớn mà đổ ngay giữa dòng, cho nó chìm sâu xuống đáy nước. Vì sao? Vì nó là nguồn gốc của tất cả khổ não đến với gia đình.

Ông phú hộ lại kéo mấy cái màn che mấy bà vợ cũ ra. Các nàng chạy đến ôm chầm lấy Tôn giả, khóc ròng kể lể:

–  Ối chàng ôi! Bộ chàng muốn mấy cô tiên nào trên trời nên đi tu để được lên trên ấy phải không? Chàng đã bỏ bê chúng thiếp để mơ tưởng lên trên trời với mấy cô tiên. Hù hu, hù hu. Nói đi, có phải vì mấy cô tiên nữ mà chàng xuất gia tu phạm hạnh hay không? Hù hu.

–  Các chị, các chị, không phải vì mục đích được sanh lên cõi trời mà bần tăng xuất gia tu phạm hạnh.

Khi ấy các bà vợ cũ đấm ngực, khóc than thảm thiết:

–  Ối, cha mẹ làng nước ơi, chồng chúng ta bây giờ lại gọi chúng ta bằng chị! Ối trời đất quỷ thần ơi!

Rồi họ ngã lăn ra giữa nhà, bất tỉnh nhân sự, Tôn giả nói với ông bà phú hộ:

–  Thưa gia chủ, gia chủ muốn thí đồ ăn thì bố thí đi, chớ có phiền nhiễu bần tăng.

–  Hãy ăn đi, con yêu dấu. Ðồ ăn đã dọn sẵn.

Thọ thực xong, Tôn giả đứng lên nói bài kệ:

Mày ngài mắt phượng mà chi?

Tốt tươi rồi cũng một bì xương khô.

Tâm: rừng tham ái sầu lo

Thân: nhà chứa bệnh, nấm mồ chờ ai

Nào đâu mắt phượng mày ngài?

Khi thây quăng bỏ ra ngoài đồng hoang

Mưa sa gió cuốn phũ phàng,

Ðống xương vô chủ võ vàng trăng soi

Ðãy da chứa đủ tanh hôi

Lại toan sơn phết ra mòi bảnh bao!

Kẻ ngu mê lại lăn vào

Như nai sa bẫy, người nào khác chi!

Ai đà giải thoát sầu bi

Tránh xa lưới ái, tình si đâu còn!

Bẫy nào bắt được nai khôn

Lúa ăn vừa đủ, tẩu bôn vô rừng

Thợ săn ngơ ngác hết mừng

Thì đành đấm ngực vẫy vùng khóc la.

Ðọc xong bài kệ, Tôn giả cáo từ đi đến vườn Lộc Uyển ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây. Khi ấy, vua xứ Kuru bảo người hầu cận sửa soạn cho vua dạo rừng. Người hầu thấy Tôn giả liền trở vế tâu:

–  Tâu Ðại vương, ngoài rừng Lộc Uyển, có vị Sa môn đang ngồi, chính là con trai của gia đình thượng tộc ở thị trấn này, tên là Lại Tra Hòa La.

–  Vậy, thay vì đi dạo rừng, ta hãy đến thăm vị Tôn giả ấy.

Vua cùng người hầu đi đến rừng Lộc Uyển, chỗ Tôn giả đang ngồi. Vua cung kính đưa tấm nệm gấm ra mời:

–  Xin Tôn giả hãy ngồi trên tấm này cho êm.

–  Ðại vương, tôi đã có tọa cụ. Ðại vương hãy ngồi trên chỗ của Ðại vương.

–  Bạch Tôn giả, người đời thường xuất gia vì bốn sự suy vong: một là lão suy, hai là bệnh suy, ba là tài suy, bốn là thân suy. Như những người lúc trẻ thụ hưởng dục lạc đã đầy đủ chán chê, đến khi già không còn ham muốn gì nữa, và cũng đã hết sức lực mới vô chùa nghỉ.

Ðó là lão suy. Lại như người mắc bệnh kinh niên không thể lao động sản xuất được, ở ngoài đời không lợi chi cho ai, lại thêm gánh nặng cho gia quyến, nên xin vô ở chùa.

Ðó là bệnh suy. Rồi có những người làm ăn thất bại, hoặc bị mất mát về tiền bạc, hoặc đánh bài bạc bị phá sản, đổ nợ đổ nần, không thể gầy dựng lại được, bèn chán nản vô chùa xin gởi tấm thân tàn, sống nốt quãng đời còn lại. Ðó là tài suy. Cũng có những người xuất gia vì lẽ không còn ai thân thích để nương tựa.

Ðó là thân suy. Thông thường vì bốn sự suy vong này mà xuất gia. Nhưng xét Tôn giả, tuổi còn thanh xuân, tóc đen nhánh, thì không phải lão suy. Da dẻ hồng hào tươi nhuận chứng tỏ sức khỏe không đến nỗi nào,thì đâu phải bệnh suy. Tôn giả xuất thân từ một gia đình thượng tộc giàu nhất vùng thì đâu phải tài suy. Song thân còn đủ, các bà vợ đang mong chờ,thì cũng không thể gọi là thân suy. Vậy Tôn giả xuất gia vì nguyên nhân nào?

–  Ðại vương, tôi xuất gia vì bốn điểm thuyết giáo của Ðấng Ðạo Sư mà tôi thấy đúng như thật. Thứ nhất là, Ngài dạy mọi sự ở thế gian là vô thường.

–  Nghĩa là sao, xin Tôn giả giải thích.

–  Ðại vương, như thân thể của Ðại vương đó, lúc nào cũng như lúc nào hay mỗi lúc một khác?

–  Như vậy là trẫm đã hiểu. Quả thật, thân thể là vô thường, đổi khác luôn luôn,nhất là ở tuổi già như trẫm. Năm nay đã khác năm ngoái, nói gì đến tuổi trẻ với lúc già, thật khác nhau trời vực. Còn điểm thứ hai là gì, thưa Tôn giả?

–  Thứ hai là vô hộ, vô chủ: không ai giúp đỡ mình được, không có chủ tể.

–  Sao lại không? Như trẫm đây, biết bao nhiêu người phò tá, trẫm là chủ cả nước,muốn chi được nấy, làm sao Tôn giả lại nói vậy?

–  Ðại vương, Ðại vương có thể đem cả tài sản, ngai vàng để thuê mướn kẻ khác đau thay, già thay, chết thay cho Ðại vương, không?

–  Cái đó thì không được.

–  Ví như Ðại vương tạo nghiệp ác, phải đọa địa ngục, thì Ðại vương có thể đem tài sản ấy đút lót cho Diêm vương để khỏi đọa, hay chính mình phải chịu?

–  Ðúng như vậy, mình làm mình chịu, không ai thay được. Thế là trẫm đã hiểu vô hộ. Còn vô chủ thì sao?

–  Ðại vương có thể làm chủ cái thân xác Ðại vương được chăng? Bảo nó không được bệnh, không được già, không được chết, nó chịu nghe chăng? Bảo cái tay đừng run, cái chân đừng quỵ, mắt đừng lờ, tai đừng lãng, được không? Ðại vương có thể bảo cái thân của Ðại vương khi nó đang đau rằng: “Hãy khỏe mạnh trở lại không? và Ðại vương có biết khi nào thì nó đau, khi nào nó chết không?

–  Ðúng thế, quả thật trẫm không thể làm chủ được cái thân này, dù trẫm đang làm chủ cả quốc gia. Còn điểm thứ ba là gì thưa Tôn giả?

–  Thứ ba là trên thế gian không có cái gì của mình.

–  Ủa,sao Tôn giả nói vậy? Trẫm có biết bao nhiêu là kho tàng châu báu, giang sơn gấm vóc này thuộc về trẫm. Nói gì đến vật, ngay cả đến người, trẫm cũng sở hữu từ quan đại thần lớn nhất trở xuống, trẫm sai đâu chạy đó, sao lại không sở hữu?

–  Ðại vương, khi Ðại vương nằm xuống, ngài có thể đem theo tất cả kho báu, giang sơn xuống âm phủ để tiếp tục sử dụng, hay phải giao lại cho kẻ khác, còn mình chết tay không? Ðại vương có thể bắt tất cả đình thần, quyến thuộc dân chúng cùng chết theo qua bên kia thế giới để Ðại vương tiếp tục làm chủ, hay Ðại vương phải ra đi một mình, để người khác thay Ðại vương trị vì thiên hạ?

–  Thưa hiền giả, đúng thế. Trẫm không thể đem theo cái gì khi chết và phải chết một mình trơ trọi, để lại giang sơn này cho người khác. Thảm thương thay! Còn điểm thứ tư là gì, xin Tôn giả hãy giảng?

–  Thứ tư là thế gian này thật thiếu thốn, thèm khát, nô lệ cho dục vọng, tham lam không bao giờ vơi.

–  Nói vậy trẫm nghĩ e chỉ đúng với những người thường, chứ trẫm đây mà còn thiếu thốn thèm khát cái gì. Vì trẫm muốn gì chẳng có, đâu còn thèm gì nữa.

–  Ðại vương, giả như Ðại vương bây giờ được tin phi báo của các đội quân tuần tiễu rằng: phía đông có mỏ vàng, phương nam có mỏ bạc, phương tây có mỏ kim cương, còn ở phương bắc hiện có một xứ giàu có, đất đai phì nhiêu mà gặp ông vua trụy lạc bê bối, cai trị mất lòng dân, nên sự nghiệp phòng vệ rất lỏng lẻo, thì Ðại vương nghĩ thế nào?

–  Thưa Tôn giả, trẫm sẽ hội họp đình thần, cắt công tác cho vị này phụ trách khai thác mỏ vàng, mỏ bạc, vị kia đào mỏ kim cương. Còn cái xứ giàu có phì nhiêu dễ chiếm ấy, thì trẫm sẽ sai võ quan cử binh tới chiếm để mở mang bờ cõi.

–  Ðại vương, đó chính là sự thèm khát, túi tham không đáy nơi Ðại vương. Người đã có một nước thì thèm chiếm thêm nước khác, cho đến kẻ vô sản thì thèm bắt con vịt, con gà của hàng xóm về làm của mình. Ðại vương kết tội kẻ trộm vặt, bỏ tù nó, mà quên rằng mình là kẻ trộm lớn khi mưu tính như vậy.Do đó mà Phật dạy: thế gian luôn luôn thiếu thốn, thèm khát, nô lệ cho lòng tham và dục vọng.

–  Hay thay, bạch Tôn giả, quả như lời Tôn giả, bốn điểm thuyết giáo của Ðức Ðạo Sư thật vi diệu. Lành thay Ðức Thế Tôn! Trẫm xin quy y bậc A La Hán, Chánh đẳng giác và xin cáo từ Tôn giả.

–  Ðại vương, xin từ biệt.