Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa

Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa

SHARE
Phật giáo Đại thừa Tiểu thừa
Phật giáo Đại thừa Tiểu thừa

Phật giáo Đại thừaPhật giáo Tiểu thừa có sự khác nhau rõ rệt ở nhiều phương diện như cách nhìn nhận về đức Phật, phương pháp tu trì, tư tưởng Bồ tát, học thuyết giáo nghĩa, mục đích tu hành… cụ thể như sau

1. Về cách nhìn nhận đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Phật giáo Tiểu thừa thường xem Ngài là một vị giáo chủ, đạo sư, là một người đạt đến sự giác ngộ triệt để.

Phật giáo Đại thừa xem Phật Thích Ca như là vị thần có uy lực quảng đại, pháp lực vô biên, toàn trí toàn năng và cho rằng ngoài đức Thích Ca Mâu Ni, ở Tam thế (Quá khứ, hiện tại, vị lai), thập phương (Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn bên, trên dưới) có vô số vị Phật.

2. Về phương pháp tu trì:

Phật giáo Tiểu thừa chủ trương tu theo ba pháp: giới, định, huệ (Thông qua việc trì giữ giới luật, tu tập thiền định mà đạt được trí huệ) và Bát chánh đạo (tám loại tư duy và phương pháp hành động chính xác).

Còn Phật giáo Đại thừa ngoại trừ “Tam học” và “Bát chánh đạo” còn nghiêng nặng về “Bồ Tát hạnh” bao gồm “Lục độ” và “Tứ nhiếp”.

3. Về tư tưởng Bồ Tát

Phật giáo Đại thừa gọi Bồ Tát, tức ý chỉ việc lập thề nguyện lớn lao, phải cứu độ hết tất cả chúng sinh thoát ly khổ hải, từ đó mà có được sự giải thoát triệt để của những người tu hành theo đạo Phật.

Người theo Phật giáo Đại thừa coi giai đoạn tu trì trước khi thành Phật của đức Thích Ca Mâu Ni, làm gương noi theo trong cách tu hành của bản thân, tức là giai đoạn tu tập “Bồ Tát hạnh”.

Do đó những người theo Phật giáo Đại thừa chủ trương có thể tu tại gia và không cường điệu giông như các giáo đồ của Phật giáo Tiểu thừa nhất thiết phải xuất gia tu hành. Đó cũng là một trong những khác biệt quan trọng giữa Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa.

Giáo đồ Đại thừa đem phương pháp tu hành hạnh Bồ Tát khái quát thành “Lục độ”, “Tứ nhiếp”.

“Lục độ” là chỉ Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ. Họ cho rằng sáu phương pháp này là có thể thoát ly khổ hải sinh tử, là con đường đạt đến Niết Bàn ở bờ bên kia.

“Tứ nhiếp” là phương pháp và bốn nguyên tắc mà giáo đồ Đại thừa phải tuân thủ trong sinh hoạt và hoạt động thường ngày. Lúc tiếp xúc với người khác cụ thể là Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự, Phật giáo Đại thừa cho rằng đó là nguyên tắc và phương pháp phải tuân thủ khi Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Để bộc lộ sự khác biệt với Phật giáo Tiểu thừa, các giáo đồ Đại thừa đem tư tưởng học thuyết của mình gọi là “Tư tưởng Bồ Tát”, đem thực tiễn tu hành của mình gọi là “Bồ Tát hạnh”, coi giới luật mình phụng thờ tuân thủ là “Bồ Tát giới”.

4. Về học thuyết giáo nghĩa 

Phật giáo Tiểu thừa thông thường chủ trương “Ngã không pháp hữu” tức là phủ định chủ thể tinh thần chủ quan của cá nhân, nhưng đốì với thế giới khách quan sự phủ định lại không triệt để.

Một bộ phận giáo phái của Phật giáo Tiểu thừa thông qua phương pháp “Phân tích” để phủ định sự vật khách quan, nhưng trên thực tế là thừa nhận sự tồn tại “Cực vi” của nhân tố cấu thành cơ bản của sự vật, mang theo khuynh hướng tư tưởng duy vật.

Phật giáo Đại thừa thường chủ trương “Nhân pháp lưỡng không”, vừa phủ định chủ thể tinh thần chủ quan của con người, cũng phủ định sự tồn tại của sự vật khách quan.

Họ cho rằng đối với nhận thức “Không” của sự vật khách quan không phải thông qua phương pháp “Phân tích” mà có được, mà là “Duyên khởi tánh không” tức là nhất thiết “Pháp” đều là do nhân duyên hòa hợp mà tạo thành, không tồn tại bản chất thực thể, nên gọi là “Không”.

Sự tồn tại của sự vật hiện tượng chẳng qua chỉ là một loại hiện tượng hư giả mà thôi. “Tánh không huyễn hữu”, là tư tưởng của Đại thừa, đặc biệt là một đặc điểm quan trọng trong thời kỳ đầu của tư tưởng Đại thừa.

5. Về mục tiêu tu hành

Phật giáo Tiểu thừa lấy việc chứng đắc quả vị “A La Hán” là mục tiêu tối cao.

Còn Đại thừa Phật giáo lấy việc “Phổ độ chúng sinh” làm tôn chỉ tu hành và lấy việc thành Phật là mục tiêu tu hành tối cao.