Phật giáo với chế độ chủng tánh

Phật giáo với chế độ chủng tánh

SHARE
thuyết phật giáo với chế độ chủng tánh ở ấn độ trước công nguyên

Vào thế kỷ 6 đến thế kỷ 5 trước công nguyên, thuyết Phật giáo do đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập đưa ra thuyết “Tứ tánh bình đẳng”, cho rằng con người ai cũng có thể xuất gia tu hành chứ không xét đến xuất thân từ loại chủng tánh nào, đã mang ý nghĩa tiến bộ trong cuộc đấu tranh phản đối lại sự thống trị của chủng tánh Bà La Môn.

Chế độ “chủng tánh” ở Ấn độ.

Khái niệm

Chế độ “chủng tánh” được gọi do trong quá trình tiến hoá từ công xã nguyên thủy sang xã hội giai cấp của xã hội Ấn Độ cổ đại. Từ sự phân hoá giai cấp đã hình thành nên một loại phân chia đẳng cấp hết sức nghiêm ngặt trong xã hội.

Chế độ chủng tánh vốn dựa vào màu da đậm hay nhạt chia ra chủng tộc cao quý hay hạ tiện. Rồi theo đà phát triển của xã hội và sự phân hoá giai cấp, nó dần dần biến chuyển thành sự phân chia theo địa vị và chức vụ xã hội, hình thành nên đẳng cấp xã hội.

Các “chủng tánh ở Ấn độ”

Trong tài liệu văn hiến lịch sử “Lê câu Phệ đà” là tài liệu sớm nhất của An Độ cổ đại, đã có đề cập đến bốn chủng tánh có địa vị khác nhau của xã hội đương thời là: Bà La môn, Sát đế Lợi, Phệ xá và Thủ đà la.

Bà La môn là tầng lớp bái tế, giai cấp tăng lữ nắm giữ quyền tế lễ tôn giáo. Họ là người làm cầu nối giữa thần thánh và loài người, cũng là giai cấp chỉ đạo sinh hoạt tinh thần của xã hội, thuộc về đẳng cấp tối cao.

Thứ đến là Sát đế Lợi, tập đoàn xã hội được hình thành bởi các quí tộc thuộc dòng chiến sĩ, bao gồm cả quốc vương nắm giữ binh quyền và giai tầng võ sĩ. Họ nắm giữ và quản lý bộ máy nhà nước, là nhân vật đại biểu cho ý chí của giai cấp thống trị.

Vốn dĩ, thầy cúng và võ sĩ không phải là đặc thù của đẳng cấp, nhưng theo sự hình thành về phân hóa giai cấp và chế độ nô lệ Thần quyền và vương quyền trở thành hai lực lượng lớn chủ yếu thông trị tinh thần và thể xác của nhân dân, vì thế hai giai cấp này dần dần hình thành chức vụ do sự lũng đoạn của giới quí tộc là chủ nô lệ, trở thành chủng tánh chiếm địa vị thông trị.

Còn các bộ lạc thôn xã thành viên theo nông nghiệp, chăn dưỡng súc vật, thủ công nghiệp và thương nghiệp cấu thành đẳng cấp thứ ba, tức chủng tánh Phệ xá. Họ trở thành những người lao động bình thường, nhưng vẫn còn giữ được sự tự do của thân người, chỉ bị bài trừ ra khỏi cơ cấu quyền lực của xã hội công cộng.

Giai cấp Thủ đà la là giai cấp có địa vị thấp nhất trong bốn loại chủng tánh. Tuyệt đại đa số bọn họ là nông dân phá sản được tạo ra từ trong sự phân hóa giai cấp và chiến tranh bộ lạc, mất đi thân phận là thành viên của thôn xã hoặc người có quan hệ bộ lạc và tù binh bị bắt trong chiến tranh, địa vị xã hội của họ thấp hèn, đa số làm nô bộc cho người, cũng có một bộ phận làm nghề nông hoặc chăn nuôi gia súc.

Về chính trị, Bà La môn và Sát Đế Lợi là hai đại chủng tánh cùng nhau cấu thành giai cấp thông trị, họ nắm giữ quản lí về sinh hoạt xã hội và sinh hoạt tinh thần của con người.

Về mặt kinh tế, hai chủng tánh này thông qua việc bố thí, nộp thuế… các hình thức tiến hành bóc lột đối với giai cấp Phệ xá và Thủ đà la.

Về mặt tôn giáo Bà La môn, Sát Đế Lợi và Phệ xá được gọi là “Tái sinh tộc”, họ có tư cách tham gia nghi thức tôn giáo “Lễ tái sinh” được cho rằng có thể nhận được sự tái sinh, còn chủng tánh Thủ đà la thì bị bóc lột quyền được tái sinh về mặt tôn giáo, không thể tham gia “Lễ tái sinh”, do đó bị gọi là “Nhất sinh tộc”.

Để củng cố chế độ chủng tánh, giai cấp thống trị đã đặt ra rất nhiều thần thoại, họ tuyên xưng dược vị thần tạo hóa “Phạm Thiên” sáng tạo ra từ miệng, sáng tạo ra từ hai tay, do đó hai chủng tánh này cao quí, còn giai cấp Phệ xá và Thủ đà la được tạo ra từ hai bên hông và hai chân của Phạm Thiên, do đó thuộc về giai cấp hèn hạ.

Ngoài ra, họ còn chế định rất nhiều luật pháp qui định chi tiết về các phương diện giữa các chủng tánh như địa vị xã hội, quyền lợi, nghĩa vụ, phương thức sinh hoạt… nghiêm khắc cấm chỉ việc kết hôn giữa chủng tánh Thủ đà la và các chủng tánh khác.

Thuyết Phật giáo đấu tranh với chủng tánh Bà La Môn

Nhưng đến thời đại của đức Thích Ca Mâu Ni, tức là vào thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Cùng với sự nắm giữ vương quyền của Sát đế Lợi và tùng sự hoạt động về kinh tế thuộc về một số thương nhân lớn của chủng tánh Phệ xá, những người thương gia và người có sở hữu đất đai rộng lớn thế lực không ngừng được mở rộng. Họ ngày càng bất mãn sự chiếm hữu chí cao vô thượng về địa vị xã hội của giai cấp Bà La môn. Do đó, có lúc họ liên kết lại để phản đối chủng tánh, khiến cho địa vị thông trị của chủng tánh Bà La môn bắt đầu lung lay.

Cùng thời điểm đó, với với việc đưa ra thuyết “Tứ tánh bình đẳng” của Phật giáo do đức Thích Ca Mâu Ni, cho rằng con người ai cũng có thể xuất gia tu hành chứ không xét đến xuất thân từ loại chủng tánh nào đã mang một ý nghĩa tiến bộ nhất định trong cuộc đấu tranh phản đối lại sự thống trị của chủng tánh Bà La môn thời ấy.