Home Nghệ thuật Phật giáo Thạch động A Chiên Đà nổi tiếng

Thạch động A Chiên Đà nổi tiếng

Thạch động Ạjanta
Thạch động Ạjanta

Thạch động A Chiên Đà (Ajanta) là chùa hang đá Phật giáo nổi tiếng của Ấn Độ, nằm ở phía đông bắc cách thành phố Mạnh Mãi khoảng 300 km. Thạch động bắt đầu được đục từ thế kỷ thứ II T.CN, tới mãi thế kỷ thứ VII S.CN mới hoàn thành, sau đó 8 thế kỷ dần dần bị rơi vào quên lãng, cho đến thế kỷ XIX mới được phát hiện trở lại.

Thạch động A Chiên Đà được khai phá trên một vách núi dài 550m, cách mặt đất không đều từ 10 – 30m, hiện còn giữ được 29 tòa hang động, niên đại sớm nhất là quần thể hang động ở giữa thạch động ngoại trừ 5 động là điện Phật để tín đồ lễ bái, số còn lại là tăng phòng. Sự phát triển của quần thể này có thể chia thành hai giai đoạn:

  • Giai đoạn thứ nhất vào thời kỳ đầu, thời gian là từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ III công nguyên, hang động chủ yếu có các hang số 9, 10, 12;
  • Giai đoạn thứ 2 vào thời kỳ vương triều Cập Đa, gồm các hang sô 1, 16, 17, 19.

Kiến trúc và điêu khắc của Thạch động A Chiên Đà vô cùng tinh xảo, đẹp đẽ, trong đó tiêu biểu có hang số 19 thời kỳ Cập Đa. Cửa động này được hợp hành bởi cửa sổ cuốn với trung ương hình cánh sen và hai trụ của hành lang, hai bên đường môn có

Điêu khắc trong Thạch quạt A Chiên Đà, khoe rất nhiều tượng đá to lớn về đức Phật cũng như các Bồ Tát khác, nhân vật tươi tắn sinh động, cho người xem câm giác ưu nhã, nghiêm trang, thuần hậu.

Hàng trụ và trên đòn của các trụ này đều có trang trí hoa văn, cây cỏ và phù điêu con người, Phật tháp và cửa sổ ở cửa trong chính giữa động, hai bên cửa vào các bức tường xung quanh, lần lượt trổ các khám thờ lớn nhỏ, bên trong chạm tượng Phật hoặc tượng Bồ Tát, dùng hoa văn cỏ cây và các loại chi tiết rắc rối để trang trí. Sự tinh xảo về kiến trúc và điêu khắc của hang đá này, được xếp hàng đầu trong số thạch động Phật giáo Ấn Độ.

Thạch động A Chiên Đà càng nổi tiếng thế giới về nghệ thuật bích họa. Biểu hiện của thạch động thời kỳ đầu là đề tài của Phật giáo tiểu thừa, các bức họa chủ yếu lấy đề tài sự tích bản sinh của Phật. Hình tượng bích họa sinh động, bút pháp điêu luyện. Bức họa “Voi sáu ngà bản sinh” được vẽ vào thế kỷ thứ I trước công nguyên, bộ phận một phần còn tương đôi hoàn chỉnh đã thể hiện voi sáu ngà cùng đàn voi đang sống trong rừng, có thần thái sinh động như thật, các cảnh đàn voi tắm, nghỉ ngơi, kiếm mồi… sống động như hiện ra trên vách đá.

Bích họa thời kỳ vương triều Cập Đa, đề tài thế tục được gia tăng vào giai đoạn cuối, biểu hiện trên các phong cách ngoại lai từ Trung Quốc, Ba Tư. Kết cấu bích họa vào thời kỳ này có rất nhiều thay đổi, thần thái nhân vật đoan trang tao nhã, màu sắc phong phú đẹp đẽ. Bức “Vương tử xuất gia” ở hang 16 và bức “Vương hậu sơ trang” ở hang 17 được sáng tác vào thế kỷ thứ V; còn bức “Liên hoa thủ Bồ Tát” ở hang số 1 được sáng tác vào cuối thế kỷ thứ VI, là những tác phẩm thuộc hàng thượng thừa. Đứng đầu hang Thạch động A Chiên Đà là hang số 17, với rất nhiều bức họa được lưu giữ, một số hình tượng biểu hiện rất sinh động cảnh sĩ nữ tập hội, hay bay lượn trên không.